• Loading...
 

Hỏi đáp

Thư viện hình ảnh

      

Thư viện Video

Ba năm thực hiện việc thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước
Ngày xuất bản: 10/07/2020 2:41:00 CH
Lượt đọc: 478

Thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước là điểm mới quan trọng trong Luật Tài nguyên nước. Quy định này được cụ thể hóa trong Nghị định số 82/2017/NĐ-CP quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước. Sau 3 năm triển khai chính sách này, hiệu quả của chính sách này đã thấy rõ. Tuy nhiên, cần có những điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế.

 * Thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước – đảm bảo công bằng, nâng cao ý thức tiết kiệm nguồn nước

Tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước quy định trong Luật Tài nguyên nước được xây dựng với chủ trương cụ thể hóa quan điểm tài nguyên nước là tài sản của nhà nước, thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Theo đó, người khai thác, sử dụng tài sản của Nhà nước cần phải nộp tiền để bảo đảm công bằng trong việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước và nâng cao ý thức sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn nước.

Quyền khai thác tài nguyên nước được định giá bằng tiền và được coi như là quyền tài sản. Tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước khác với thuế tài nguyên nước, phí và lệ phí cấp giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước. Đó là khoản thu của chủ sở hữu khi cho các chủ thể khác sử dụng tài sản của mình tương tự như khoáng sản, đất đai. Hơn nữa, việc thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước góp phần nâng cao ý thức và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong  khai thác, sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả và bảo đảm công bằng trong việc sử dụng tài sản của Nhà nước.

Tại Điều 65 Luật Tài nguyên nước quy định tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên nước phải nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước trong các trường hợp sau đây: (1) Khai thác nước để phát điện có mục đích thương mại;(2) Khai thác nước để phục vụ hoạt động kinh doanh, dịch vụ, sản xuất phi nông nghiệp;(3) Khai thác nước dưới đất để trồng cây công nghiệp, chăn nuôi gia súc, nuôi trồng thủy sản tập trung với quy mô lớn.

Tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước được xác định căn cứ vào chất lượng của nguồn nước, loại nguồn nước, điều kiện khai thác, quy mô, thời gian khai thác, mục đích sử dụng nước.

Cũng tại Điều này, Luật Tài nguyên nước đã giao Chính phủ quy định cụ thể các trường hợp khai thác tài nguyên nước phải nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước. Cụ thể hóa quy định này, tại Điều 40 Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ đã quy định về các trường hợp phải nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước.

Để triển khai hiệu quả các quy định về việc thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, vừa bảo đảm khuyến khích tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, bảo vệ được nguồn nước khai thác, vừa bảo đảm được an sinh xã hội và bổ sung cho một số hoạt động bảo vệ nguồn nước, ngày 17/7/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 82/2017/NĐ-CP quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước.

Ngay sau khi Nghị định 82/2017/NĐ-CP có hiệu lực, Cục Quản lý tài nguyên nước (Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã tích cực tuyên truyền, hướng dẫn để các tổ chức cá nhân thực hiện việc kê khai tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước. Đến nay 100% các công trình đã có giấy phép trước ngày Nghị định có hiệu lực và chủ giấy phép thực hiện kê khai đã được Cục thẩm định và phê duyệt tiền cấp quyền theo quy định. Đối với các giấy phép khai thác mới việc tiếp nhận thẩm định hồ sơ tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước đã được thực hiện đồng thời với việc tiếp nhận, thẩm định hồ sơ đề nghị điều chỉnh, cấp lại giấy phép về tài nguyên nước theo quy định tại Khoản 2 Điều 12 Nghị định số 82/2017/NĐ-CP.

* Thu ngân sách gần 9.500 tỷ đồng

Theo số liệu báo cáo của các tỉnh và số liệu thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường thì tính đến ngày 9/4/2020, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phê duyệt được 593 Quyết định cấp quyền khai thác tài nguyên nước với tổng số tiền 9.494,4 tỷ đồng; Các tỉnh đã phê duyệt được trên 3.300 Quyết định cấp quyền khai thác tài nguyên nước với tổng số tiền trên 637 tỷ đồng.

Trong 593 các công trình khai thác tài nguyên nước (Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt), gồm có: 112 công trình khai thác nước dưới đất (trong đó 56 công trình khai thác nước cấp cho các nhà máy nước, 56 công trình khai thác nước dưới đất khác (sản xuất, kinh doanh, dịch vụ...); và 481 công trình khai thác nước mặt (trong đó có 436 công trình thủy điện, 5 công trình hồ chứa thủy lợi, 19 công trình khai thác nước cấp cho các nhà máy nước,  21 công trình khai thác nước mặt khác (làm mát, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ...).

 Chính sách thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước nhằm đảm bảo công bằng trong sử dụng nước và nâng cao ý thức tiết kiệm nguồn nước

* 3 bất cập của Nghị định 82/2017/NĐ-CP

Bộ TN&MT cho biết, sau 03 năm thực tiễn triển khai Nghị định số 82/2017/NĐ-CP ngày 17/7/2017 của Chính phủ quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước đã đi vào cuộc sống, nâng cao trách nhiệm của tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên nước trong việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên nước, tăng thu ngân sách Nhà nước.

Bên cạnh những kết quả nêu trên, qua quá trình triển khai Nghị định, trên cơ sở ý kiến của các Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp thì những khó khăn vướng mắc đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung Nghị định nêu trên, cụ thể như sau:

Một là, vướng mắc do thay đổi quy định của pháp luật. Từ khi Nghị định 82 có hiệu lực đến nay đã có nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung, do đó, một số quy định của Nghị định hiện không còn phù hợp như: các quy định về quy hoạch tài nguyên nước tại Điều 2 và Phụ lục II của Nghị định không phù hợp với quy định của Luật Quy hoạch, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 Luật có liên quan đến quy hoạch; các quy định về thời hạn nộp hồ sơ khai thuế, địa điểm nộp hồ sơ khai thuế (trong đó có tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước), về thời hạn nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước của cơ quan thuế, về mẫu thông báo nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước hiện đã được giao Chính phủ hướng dẫn tại Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14; quy định về hệ số nguồn nước khai thác có liên quan đến vùng hạn chế khai thác nước dưới đất hiện không còn phù hợp với quy định tại Nghị định số 167/2018/NĐ-CP ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Chính phủ quy định việc hạn chế khai thác nước dưới đất...

Hai là, vướng mắc từ thực tiễn triển khai thi hành Nghị định. Qua thực tiễn 03 năm triển khai thi hành Nghị định với hơn 140 văn bản của các Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp đã cho thấy nhiều quy định của Nghị định hiện không còn phù hợp với thực tiễn hoặc có những vướng mắc và đề nghị tháo gỡ như: các quy định về đối tượng nộp tiền, nhiều địa phương, doanh nghiệp đề nghị làm rõ các đối tượng không phải nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước để thống nhất áp dụng trên phạm vi cả nước; căn cứ tính tiền trên cơ sở tầng chứa nước khai thác là chưa phù hợp vì nhiều công trình khai thác ở 2 tầng chứa nước khác nhau; giá tính tiền chưa làm rõ thời điểm áp dụng giá tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước và lúng túng trong việc áp dụng giá tính tiền khi chiếu sang các quy định về tính thuế tài nguyên đối với nước thiên nhiên nên chưa có sự thống nhất trên cả nước; nhiều công trình cấp nước tập trung còn lúng túng trong xác định tỷ lệ cấp nước cho các mục đích; điều chỉnh tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước còn có nhiều điểm chưa phù hợp; nhiều công trình bị hỏng không khai thác được nhưng khi điều chỉnh thì tiền cấp quyền lại tăng lên; chưa có quy định về thời điểm áp dụng giá tính tiền đối với trường hợp truy thu tiền; ...

Ba là, một số nội dung liên quan đến việc kê khai, tính, phê duyệt và thu nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước đã xảy ra trên thực tế nhưng chưa hướng dẫn cụ thể như việc phân chia tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước giữa các địa phương nơi có công trình khai thác nước và hồ chứa; quy định về gia nhiệt cho sản phẩm vẫn được xác định mức thu cao như đối với trường hợp sản xuất, trong khi đó, gia nhiệt là loại hình khai thác, sử dụng nước không tiêu hao, giống làm mát máy, tạo hơi tức là sử dụng nước sau quá trình sản xuất để làm tăng nhiệt độ của sản phẩm và do đó sẽ giảm nhiệt độ của nước trước khi xả trả lại nguồn nước. Vì vậy, địa phương đã đề nghị bổ sung gia nhiệt để bảo đảm tính công bằng giữa các loại hình sử dụng nước. Ngoài ra, mẫu quyết định phê duyệt tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước chưa có mã số thuế nên khó khăn cho cơ quan thuế trong việc xác định doanh nghiệp nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước.

* Sẽ sửa đổi một số nội dung về thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước

Để khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên và nhằm hiện thực hóa chủ trương tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước. Đồng thời, để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho cơ quan nhà nước trong việc tính, phê duyệt và thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã trình Chính phủ đưa vào Chương trình công tác năm 2020 để xây dựng dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 82/2017/NĐ-CP quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, theo đó những nội dung đề nghị sửa đổi, bổ sung 7 Điều, 3 Phụ lục và đề nghị bãi bỏ 1 Phụ lục, cụ thể như sau:

Cụ thể, trong Chương I, khoản 1, khoản 2 Điều 2: bổ sung mục đích việc khai thác nước sử dụng cho mục đích gia nhiệt vì trường hợp này cũng tương tự như khai thác nước để làm mát máy, tức là sử dụng nước sau quá trình sản xuất để làm tăng nhiệt độ của sản phẩm và do đó sẽ giảm nhiệt độ của nước trước khi xả trả lại nguồn nước; Khoản 2, khoản 4 Điều 4: Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 4 (Căn cứ tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước) theo hướng sát hơn với thực tế địa phương và khoản 4 sửa theo hướng thay đổi tầng chứa nước thành chiều sâu giếng.

Trong Chương II, sửa đổi, bổ sung khoản 4, khoản 5, khoản 6 Điều 7 theo hướng: bổ sung quy định để hướng dẫn cụ thể căn cứ xác định tỷ lệ cấp nước cho các mục đích của hệ thống cấp nước tập trung để làm cơ sở tính sản lượng tính tiền cấp quyền khai thác nước; bỏ quy định về thời điểm dự kiến bắt đầu vận hành; bổ sung quy định về ghi rõ thời gian có hiệu lực của giấy phép nhằm xác định được thời điểm đầu và thời điểm cuối phục vụ tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước.

Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 8 theo hướng quy định rõ mục đích khai thác, sử dụng nước áp dụng mức nào trong khung giá tính thuế tài nguyên đối với nước thiên nhiên do Bộ Tài chính ban hành. Đồng thời, bổ sung một khoản mới quy định về thời điểm áp dụng các mức giá tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước.

Sửa đổi, bổ sung Điều 11 (Trình tự, thủ tục tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước) theo hướng: quy định thủ tục phê duyệt tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước độc lập với thủ tục cấp giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước đối với trường hợp công trình chưa vận hành khai thác.

Sửa đổi, bổ sung Điều 12 (Điều chỉnh, truy thu, hoàn trả tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước) theo hướng: điều chỉnh tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước phải căn cứ vào giá tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước tại thời điểm phê duyệt tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước trừ trường hợp công trình bị hư hỏng hoặc phải ngừng khai thác theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì căn cứ vào giá tính tiền lần đầu. Đồng thời, rà soát bỏ những trường hợp điều chỉnh tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước bị trùng lặp.

Sửa đổi, bổ sung Điều 14 (Phương thức thu, nộp, quản lý, sử dụng tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước) theo hướng: Bổ sung quy định nộp tiền cấp quyền khai thác, sử dụng tài nguyên nước 01 lần đối với trường hợp số tiền cấp quyền khai thác, sử dụng tài nguyên nước nhỏ hoặc tổ chức, cá nhân tự lựa chọn tại khoản 1 Điều 14 của Nghị định. Bổ sung một khoản quy định về việc nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước đối với các tỉnh có hồ chứa, có công trình khai thác tài nguyên nước.

Bộ TN&MT cũng cho biết, đây là Nghị định có ý nghĩa quan trọng về quản lý tài nguyên nước, giúp nâng cao nhận thức của các tổ chức, cá nhân theo hướng sử dụng, khai thác tài nguyên nước tiết kiệm và hiệu quả hơn. Hiện nay, Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 82/2017/NĐ-CP ngày 17 tháng 7 năm 2017 của Chính phủ quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước đã được đăng trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ để lấy ý kiến góp ý của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Trên cơ sở các ý kiến góp ý, Bộ sẽ nghiên cứu, tiếp thu để hoàn thiện Dự thảo trình Chính phủ ban hành.

Theo Monre.gov.vn